Thursday, July 20, 2017

Những vụ án bí ẩn trong phòng kín


Ngày 9/3/1929, Isidore Fink bị bắn chết tại tiệm giặt ủi Fifth Avenue (tiệm này là của Isidore) ở số 4, hướng đông phố 132nd tại thành phố New York. Cảnh sát được gọi tới bởi người hàng xóm của nạn nhân là Locklan Smith,người nghe được tiếng hét thất thanh và những âm thanh của 1 cuộc vật lộn bên trong tiệm của Isidore.

Nhưng khi cảnh sát tới hiện trường, họ phát hiện của bị khóa từ bên trong nên liền nhờ 1 cậu bé chui qua của sổ nhỏ của căn phòng. Nạn nhân bị bắn 2 phát: 1 phát vào vai và 1 vào tay trái, bàn tay trái của cái xác còn có thuốc súng cháy. Sau khi điều tra hiện trường, cảnh sát xác nhận rằng đây không phải là 1 vụ án cướp của do còn rất nhiều tiền trong người Isidore, máy thu tiền của tiệm và không có hung khí tại đây. Ban đầu,cảnh sát không cho rằng đây là 1 vụ án phòng kín vì giả định hung thủ có thể chui qua cửa sổ nhỏ để vào.

Ngay lập tức, 1 số người nhỏ con trong sở được triệu tập nhưng không ai chui vào được. Rồi cảnh sát mới quan sát cậu bé chui vào 1 lần nữa và xác định là 1 vụ án phòng kín vì đến cả 1 cậu nhóc còn chui qua cái cửa sổ đó đầy khó khăn. Giả thuyết thứ 2 là Isdore bị bắn ở ngoài phố nhưng vết thuốc súng trên tay nạn nhân lại chỉ ra cự ly bắn của súng là khá gần.

Sau 2 năm điều tra, ủy viên hội đồng thành phố New York là Edward P. Mulrooney đành khép lại vụ án và gọi đây là "Vụ án phòng kín không thể giải quyết".

====================================


Nạn nhân lần này là Joseph Bowne Elwell, 1 trong những tay bài xuất sắc nhất thế kỉ 20, ông bị bắn chết tại căn nhà ở Manhattan ngày 11/6/1920. Quản gia của Joseph sau khi ra ngoài về, đã tìm thấy xác của Joseph ngồi sụp xuống với 1 lỗ đạn vào đầu ở tuổi 44. Vụ án đã gây ra 1 làn sóng dư luận mạnh mẽ vì tầm quan hệ của ông với giới truyền thông và tính chất vụ án, vụ án phòng kín không hề có 1 manh mối nào.

Theo nhận định của cảnh sát, Joseph bị bắn thẳng ngay vào giữa đầu bởi 1 khẩu revolver 45 và căn nhà hoàn toạn được đóng kín trong lúc ông chết (ngoài cửa ra vào của bà quản gia). Tờ New York Times đã có 1 miêu tả chân thực về vụ án: "1 trong những vụ án được thực hiện xuất sắc nhất trong lịch sử tội phạm, nạn nhân không bị bắt cóc hay đe dọa, không có 1 sự dằn co, đồ đạc trong nhà được giữ nguyên và đặc biệt không có ai vào và ra trong khoảng thời gian Joseph vào và thời điểm tìm thấy xác...".

Dĩ nhiên, ban đầu người ta cũng nghi ngờ bà quản gia nhưng có chứng cứ ngoại phạm và thời điểm cái xác chết đã làm bà sạch tội. Cảnh sát không tìm thấy bất cứ hung khí, lỗ đạn (chứng tỏ không phải bắn từ ngoài vào) và nhân chứng.

Thế người đàn ông Joseph này là ai ??? Trong giới bài bạc, đây là 1 trong những ông trùm. Joseph học đánh bài từ khi còn rất trẻ và tham gia thị trường bài bạc ngay lúc trưởng thành. Ông có được rất nhiều tiền và danh vọng từ khắp các sòng bài ở New York. Thời điểm 1910 - 1920.. Joseph và cộng sự là Harold Vanderbilt là 1 trong những cặp bài trùng quyền lực nhất nước Mĩ. Và đến tận bây giờ, ảnh hưởng của Joseph trong giới bài vẫn còn đó, thể hiện rõ ở công thức đánh "Elwell Double".

Tài năng của Joseph không những được thể hiện trong bài bạc, Joseph sở hữu rất nhiều kho hàng, tổ chức hơn 20 cuộc đua ngựa cá độ và là 1 người đàn ông hào hoa. Trong 1 lần phỏng vấn, ông đã nói rằng ông đã ngủ với hơn 50 người phụ nữ có chồng, và 1 số có chìa khóa nhà ông (manh mối)... hoặc đó là ông chồng của họ đã ra tay. Ông còn truyền cảm hứng cho nhiều cuốn sách trinh thám, điển hình là "Vụ án của Benson" do S.S. Van Dine viết. Đến giờ,vụ án vẫn chưa bao giờ được giải đáp.

"Không được mạo hiểm, trừ khi bạn chắc chắn về những gì thử thách đó sẽ tiết lộ." - Câu nói của Joseph Bowne Elwell

=================================

Cái chết của Julia Wallace

Vụ án của Julia Wallace là 1 trong những cái chết phòng kín kinh điển nhất, như là được tái hiện từ trong 1 cuốn sách trinh thám nổi tiếng. Nghi can duy nhất của vụ án này là chồng bà, William Herbert Wallace, nhưng ông lại có chứng cứ ngoại phạm ở nơi công cộng.

Không ít người thời bất giờ đã gọi vụ này là "vụ án phòng kín không tưởng mà không ai có thể thực hiện". Nhà phê bình James Agee đã miêu tả: "mọi chi tiết đều quá điên rồ, không tưởng, mọi thứ sẽ không bao giờ được sáng tỏ". Kẻ giết người bí ẩn này đã tự miêu tả hắn là “R. M. Qualtrough.”

Nhưng câu hỏi được đặt ra của cảnh sát là kẻ giết người thực tế có phải là William hay hắn chỉ đang cố tình đổ tội cho anh ??? Cuộc tranh luận về vấn đề đó không bao giờ có lời giải đáp.

Thời điểm vụ án xảy ra, William đã 52 tuổi và sống cùng nạn nhân như 1 cặp vợ chồng trong 18 năm. Ông là 1 điệp viên bảo hiểm của công ti Prudential nổi tiếng, nhưng ông thường công kích cảnh sát là lũ hèn nhát gây nhiều tranh cãi. William còn có sở thích đánh cờ, 1 người trong club đã nói với báo chí: "Nếu ông ta không bị treo cổ vì giết vợ, ông nên bị giết vì chơi cờ quá hay" (ý nói đánh cờ ăn tiền).

Ok, ta đã sợ lược qua, giờ vào chi tiết vụ án.

Câu chuyện xảy ra vào 19 tháng Giêng, 1931

Một buổi sáng thứ 2, William đến club cờ vua để chuẩn bị cá cược như thường lệ. Không lâu sau khi ông tới thì chủ club đã nhận được 1 cuộc điện thoại từ 1 kẻ lạ mặt tự gọi mình là “R.M. Qualtrough”, yêu cầu William tới 25 Menlove Gardens East vào ngày mai để nói về chuyện con gái của ông.

Khi chủ club nói cho William biết về tin nhắn đó thì ông khăng khăng không hề biết 1 ai tên Qualtrough và chưa từng nghe về số nhà 25 phía Tây vườn Menlove. William về nhà vào lúc 6h tối ngày hôm sau.

Cũng đêm hôm đó khoảng 6h30 đến 6h45 tối, có 1 cậu bé đưa sữa đã gặp Julia lần cuối cùng (có bằng chứng ngoại phạm do có người nhìn thấy cậu ấy không đi vào nhà).

Kì lạ, sau khi khẳng định mình không quen biết ai tên là Qualtrough, thì khoảng 7h 3 phút tối đó William đã phóng xe để đi gặp “Qualtrough.” và trên đường đi tới phía Tây vườn Menlove còn dừng lại hỏi đường 1 số người nên có chứng cứ ngoại phạm. Không lâu sau.....ông phát hiện địa điểm phía Tây vườn Menlove thực chất không hề tồn tại mà chỉ có 1 con đường tên là Menlove....William đã đi hỏi từng người 1 tại khu vực đó về khu vực phía Tây vườn Menlove và cái tên “Qualtrough.” nhưng không có ai biết về chúng. William còn yêu cầu cảnh sát tìm giúp ông nhưng không ai có thể biết được số 25 phía Tây vườn nằm ở đâu và ông còn hỏi "Đã 8h chưa ???".Và dĩ nhiên, lúc đó, ông gần như không thể nào bị tình nghi được nữa.

Lần xuất hiện tiếp theo của ông là ở nhà trên con phố Wolverton Street. Hàng xóm nói rằng trông ông lo lắng và có điều gì đó kì lạ. William liên tục đút chìa khóa 1 cách điên loạn rồi đạp cửa xông vào nhà riêng của mình. Bên trong nhà là xác của Julia.

Xác Julia nằm trên ghế trước lò sưởi, 1 bên đầu bị đập mạnh tới mức lòi cả não ra ngoài, sau đó xác định là bị đập 11 lần bởi cây xà beng bị cùn. Máu văng khắp phòng, vệt máu cao nhất là 2m trên tường nhà, trên người nạn nhân mặc 1 cái áo Mackintosh bị cháy 1 nửa của chồng bà (vết cháy còn mới). Sau khi hàng xóm ùa vào, William chỉ nói được rằng: "Chúng đã giết cô ấy, nhìn đầu của Julia đi".

Cảnh sát yêu cầu giáo sư John McFall (giáo sư giỏi) tới xem xét, John xác định Julia bị giêt lúc 6h tối. Sở cảnh sát còn huy động lực lượng đi lục soát mọi căn nhà từ phố Wolverton tới đường Menlove nhưng không tìm  được hung khí khả nghi hay bất cứ thứ gì liên quan đến vụ án.

Quá ít thông tin, cảnh sát đành phải đưa William vào tình nghi số 1 với lí do chán nản chuyện gia đình.

Người dân Liverpool đa số đều đồng tình với cảnh sát. 1 số người dân đặt ra 1 vài giả thuyết khá thú vị: William đang sử dụng thuốc phiện và đã ngoại tình nên mới giết vợ. Willam phát hiện vợ mình bị bệnh nan y nên mới giết cô. Hung thủ là tình nhân của Julia, công ty bảo hiểm giết Julia...

Dĩ nhiên, William có quá nhiều chứng cớ ngoại phạm (có cả chứng cứ ở đồn cảnh sát thì chịu) và Julia không hề có 1 mối quan hệ thân thiết quá mức với ai ngoại trừ chồng, những người bạn của cô đứng ra làm chứng rằng cô không tham gia 1 buổi tiệc hay đi chơi với ai gần đây, và Julia vẫn rất khỏe mạnh nên không thể nào công ty bảo hiểm lại giết cô.

Nhưng tại sao William vẫn bị nghi ngờ à ??? Bởi vì ngoài William thì không có ai có thể làm được vụ án này cả. Hiện trường là 1 phòng kín hoàn toàn, ngoài William bước vào tìm thấy xác thì không hề có ai vào được căn nhà do chỉ có 2 vợ chồng là giữ chìa khóa, cửa sổ đều đóng kín và ống thông khói thì lửa cháy lớn cộng với việc không có dấu hiệu ngổn ngang do ai dẫm đạp. Hơn nữa những người bạn của ông miêu tả ông là 1 người rất thông minh và xảo quyệt làm cho cảnh sát không còn cách nào ngoài đưa ông lên vị trí tình nghi số 1.

Sau nhiều phiên tòa và điều tra, William thoát tội nhưng cuộc sống của ông thì không được tốt đẹp lắm. Hằng ngày hòm thư của ông ngoài thông báo trả tiền chi phí thì còn lại 90% là thư đe dọa.

Ok, bây giờ chúng ta cùng vào phân tích vụ án nhé:

Đầu tiên là “Qualtrough”, tên này có % cao nhất là kẻ giết người, nhưng mà tại sao kẻ giết người lại cẩn thận để William có nhiều chứng cứ ngoại phạm trong khi anh ta là người dễ thế tội nhất ???

Thứ 2, nếu tên đó không phải William thì chắc chắn phải là người thân của cậu vì cuộc gọi đó là vào thứ 2 chơi cờ hàng tuần của club, 1 sự kiện nhỏ, không quan trọng mà chỉ người trong hội mới biết. Julia cũng phải biết anh ta vì nếu có 1 người lạ, 1 người như Julia sẽ không bao giờ để cho hắn vào.

Thứ 3, cuộc gọi cho William quá trùng hợp, anh ta vừa đến club chưa được 1 phút và có người gọi ngay ư ???

Thứ 4 và quan trọng nhất, có phải William đang cố tạo chứng cứ ngoại phạm, bây giờ, bạn bật google map và tìm đường Menlove sẽ phát hiện nó nằm khá gần nhà của William. Thế thì vì sao anh ta không sử dụng bản đồ trên xe mà phải đi khắp khu đó hỏi đường ???

Thứ 5, đó là cách nói chuyện của William khi nói chuyện với cảnh sát : "Đã 8h chưa ???" và việc anh cứ hỏi nhiều người trong khi đã nắm rõ câu trả lời.

Mặc dù thế, có 2 thứ giúp anh thoát tội cực kì dễ là thời gian vụ án và chứng cứ ngoại phạm. William ở đường Menlove vào lúc 6h49 và cậu bé giao sữa nhìn thấy Julia là vào khoảng 6h30 tới 6h45 nên bất khả thi để kết tội. Nếu có thể thì bạn nghĩ William có thể bổ đầu vợ mình 11 nhát rồi dọn nhà sạch sẽ tiêu hủy chứng cứ rồi quay trở lại đường Menlove trong 19p (tính từ lúc thấy William ở đường Menlove cho tới lúc William hỏi đường người đầu tiên) rồi quay lại Menlove.

Khoảng đường từ nhà anh tới Menlove là khoảng 30p đấy nhé.

======================

Căn phòng của Emily

Sợ lược vụ án:

12/11/1907, xác của Emily (hay còn gọi là Phyllis) Dimmock được tìm thấy tại phòng trọ khóa kín, tình trạng bị cắt cổ (cổ gần đứt ra khỏi thân) đến chết.

Kênh Discovery Channel đã đưa vụ án vào top 3 vụ án bí ẩn nhất Anh (chỉ sau "Jack the Ripper" và "Bí ẩn Peasenhall ")

Vụ án được điều tra liên tục trong 4 năm nhưng không bao giờ tìm ra hung thủ.

Cuộc đời của Emily và những chi tiết đáng chú ý:

1. Như đã nói ở trên, xác của Emily, 1 cô gái điếm được tìm thấy tại phòng trọ khóa kín trong tình trạng bị cắt cổ.
2. Phyllis không phải tên thật mà là Emily Elizabeth Dimmock.
3. Cô sinh ở làng Standon, Hertfordshire vào ngày 20/10/1884.
4. Cha Emily quản lý 1 công ty sản xuất bia tên Red Lion.
5. Gia đình cô chuyển nhà 2 lần: vào năm 1895, tới Hitchin và vào năm 1897, tới Bedford.
6. Emily ban đầu làm người ở nhưng sau đó đã được cha cô cho vào làm phục vụ ở khách sạn Swan. Không lâu sau em cô lấy chồng là 1 sĩ quan cảnh sát, em của Emily khăng khăng bắt chị mình nghỉ việc tại nơi đó.
7. Năm 1905, Emily thuê nhà tại số 1 phố Bidborough. Chủ nhà là John William Crabtree, người mà không lâu sau cái chết của cô bị cảnh sát bắt vì kinh doanh nhà thổ.
8. Năm 1906, Emily lấy chồng là Bertram Shaw.
9. Shaw (chồng Emily) làm việc tại 1 nhà hàng ở đường cao tốc, anh thường đi lúc 4h15 chiều và về lúc 11h30 tối. Nhưng vào ngày xảy ra vụ án, Shaw ở lại nhà hàng suốt đêm nên có chứng cứ ngoại phạm của vụ án.
10. Lúc Emily và Shaw có mặt ở nhà, Emily là 1 cô vợ hiền. Nhưng khi Shaw ra ngoài, Emily là hà thiên lộn.

Cái chết của Emily
Thứ 6 ngày 6/11/1907, Emily gặp tình nhân là Robert Wood tại quán rượu Eagle ở đường Royal College. Robert đã lấy và gửi cho Emily 1 tấm bưu thiếp, trong đó ghi: "Em yêu, ta sẽ gặp nhau lúc 8h15 tại phố Rising Sun nhé." và kí tên là Alice để khỏi cho Shaw nghi ngờ.

Tấm bưu thiếp lần đầu được thấy bởi bạn của Emily vào thứ 2 ngày 9/11 và trở thành manh mối đầu tiên của vụ án. Trong khi đó, Shaw vẫn làm việc.

Emily đã dẫn 1 người đàn ông về nhà để xã giao vài phát khoảng 3 đêm. 1 trong số đó là phụ bếp tên Robert Percival Roberts.

Vào đêm 11/11/1907, Robert đang ở Rising Sun với người bạn là Frank Clarke cùng với Emily ở quán rượu Eagle rồi trở về nhà.Đây là lần cuối ta thấy Emily.

Sáng sớm 12/11/1907, mẹ của Emily tới thăm cô. Từ đêm hqua tới khoảng 11h30 sáng khi mẹ Emily tới, không ai gặp Emily (chứng tỏ cô bị giết vào buổi đêm). Mẹ Emily gọi cửa nhưng không ai trả lời nên đành đợi Shaw về mở. Shaw thấy phòng bị khóa bên trong nên gọi chủ nhà mở cửa. 3 người họ là 3 người đầu tiên báo với cảnh sát...

Căn phòng bị lục lọi, những tấm bưu thiếp tình tứ bị đốt cháy có vẻ như để che giấu (Robert không phải người duy nhất gửi bưu thiếp). Bồn rửa của căn phòng dính máu chứng tỏ hung thủ đã làm sạch trước khi bỏ trốn.

Tấm bưu thiếp được tìm thấy bởi Shaw. Và khi đó, Robert đã bị tình nghi là kẻ giết người.

Chứng cứ:
Cuộc phỏng vấn Robert là 1 trong những cuộc phỏng vấn khắc khe nhất, cảnh sát hỏi hết mọi khía cạnh và tất cả những ngưởi lquan đến anh đều bị triệu tập.

Đừng thắc mắc vì sao không xét nghiệm ADN hay vân tay nhé, đây là năm 1907, lúc này chưa có đâu. Điều duy nhất chúng ta biết được là Emily bị cắt cổ từ trái sang phải. Khi giám định dạ dày, cơ quan pháp y xác định khoảng thời gian chết của cô là vào khoảng 3h sáng tới 6h sáng.

Lúc này có lẽ Emily vẫn còn ngủ vì không có 1 vết thương ngoài da nào của sự dằn co, chỉ có 1 vết cắt mạnh ở cổ. Tác động của lực giúp cảnh sát xác định rằng lúc đó hung thủ ở bên phải chiếc giường, nhân lúc đang ngủ mà hắn ra tay nhanh gọn. Thật ra cắt cổ 1 người không phải dễ đâu các bạn, dễ nhất là khi người đó đang không cảnh giác.

Robert Wood được nhìn thấy cùng với Emily tại quán rượu bởi những người bạn của Emily và 1 người quản lý hiệu sách tên Joseph Lambert. Nhưng 1 điều gì đó đã làm Lambert thay đổi lời khai trong quá trình điều tra.

Ngày cuối cùng của Emily, cô nhận được 2 lá thư, 1 lá ta không thể biết được của ai và 1 lá là của Robert. 2 lá đó cô đều đem đi đốt. Lá thứ 2 thực sự không có tên nhưng trước khi đốt thì cô đã đưa cho Robert xem và chính anh khẳng định là do anh gửi.

Sau khi tấm bưu thiếp được tìm thấy, Robert sợ bị liên lụy nên lẩn trốn (không tìm ra do tên ghi trên bưu thiếp là Alice) nhưng do cảm thấy nặng nề nên đã nói với 1 cô gái tên Ruby Yong. Trong 1 lần nói chuyện với bạn. Ruby đã kể ra và cuối cùng, Robert bị bắt.

Robert bị bắt nhưng không thể bị kết tội.
Anh có quá nhiều bằng chứng, thứ nhất là người đã đi cùng anh tới quán rượu tối đó đã đi với anh đến tận nhà. Thứ 2 là hàng xóm đều trông thấy Robert. nên anh được thả tự do
Nhưng nếu không phải Robert giết, thì là ai ????

==========================

Bí ẩn Peasenhall

Bí ẩn Peasenhall là 1 trong những vụ việc đáng chú ý nhất ở Anh trong giới điều tra và là 1 trong những vụ án "bước ra từ tiểu thuyết".

Rose Harsent là 1 hầu gái tại gia đình nhà Crisp tại ngôi làng Peasenhall, Suffolk. Vào Chủ Nhật ngày 1/6/1902, bố của Rose đến thăm con gái bằng cửa sau thì thấy xác của Rose nằm chênh vênh ở cầu thang, xác của cô có nhiều vết đâm chém, bị cắt cổ và trang phục của cô bị bốc cháy (có lẽ để hủy chứng cứ). Bạn đầu, họ nghĩ là do Rose có thai nên mới tự sát nhưng không có hung khí trong vòng khắp khu vực nên xác định là 1 vụ giết người.

Bác sĩ pháp y và cảnh sát đã ngay lập tức có mặt tại hiện trường. Sau khi giám định, người ta phát hiện cô đã chết 4 giờ trước và đang có thai. Cảnh sát còn phát hiện được 1 cuốn sổ bí ẩn trong phòng Rose, trên đó có ghi 1 cuộc hẹn vào lúc nửa đêm với nạn nhân và xác của Rose bị xâm hại. Gia đình Crisp lúc đó tất cả đều ra ngoài từ sáng sớm và có chứng cứ ngoại phạm.

Xác định mức độ nghiêm trọng của vụ án, cảnh sát đã lục soát và tìm được nghi phạm là 1 người đàn ông tên Gardiner. Cuộc thẩm vấn đầu tiên diễn ra, Gardiner khẳng định mình không hề gửi hay có 1 cuộc hẹn nào với Rose, ông nói lúc đó đang ở nhà với vợ và không chỉ vợ ông mà hàng xóm còn khằng định đêm đó Gardiner không hề ra khỏi nhà vào đêm đó.

Gardiner bị triệu tập tới tòa án 3 lần, dĩ nhiên không lần nào kết tội được ông. Vụ án phức tạp đến mức cảnh sát thời bấy giờ không muốn theo đuổi nó nữa và Gardiner được tự do.

Sự dã man của vụ án trên (1 người mang thai bị hiếp và giết chết) đã làm giới báo chí Anh tốn khá nhiều giấy mực trong 1 thời gian dài. Còn về Gardiner, ông bỗng trở thành 1 người nổi tiếng và có mặt trên truyền hình thường xuyên. Mặc dù nhận được khá nhiều thư đe dọa vô danh yêu cầu ông nhận tội, Gardiner vẫn từ chối thay tên đổi họ mà chỉ chuyển từ Suffolk tới Southall ở London....rồi biến mất 1 cách kì lạ.

Mặc dù không có cơ sở để kết tội Gardiner nhưng cảnh sát vẫn tiếp tục điều tra ông và người dân ở Peasenhall. Họ giả thuyết rằng có thể là 1 người nào đó trong làng đã có quan hệ mờ ám với Rose, nhưng gia đình Crisp nói rằng Rose ít khi qua lại với người dân xung quanh nên họ không thể cung cấp chứng cứ.

1 giả thuyết khác là chính bà Gardiner đã giết Rose vì phát hiện ra vụ ngoại tình (có thể có hoặc không) nên đã giết Rose, nhưng việc cái xác có dấu hiệu bị hiếp tại hiện trường và chứng cứ ngoại phạm đã bác bỏ giả thuyết trên.

Những điểm kì lạ của vụ án
1. Chiếc váy bị cháy, chúng ta đều biết là cái xác chết 4 giờ trước, nhưng tại sao chiếc váy lại vẫn còn cháy khi ông bố Rose đến thăm nhỉ ??? Nếu hung thủ cố tình đốt phi tang thì phải đốt ngay và trong 4 giờ ko thể nào còn lại xác.
2. Lời khai của hàng xóm nói rằng Gardiner ko hề ra ngoài, chứ có nói thêm là ra ngoài bằng của trước đâu ??? Tại sao cảnh sát lại chỉ thẩm vấn đến đó ??? Sao họ có thể lấy lời khai trong khi họ còn không biết rằng Gardiner có thể ra ngoài bằng những đường nào nhỉ ???
3. Những bức thư đe dọa của Gardiner có phải do hung thủ gửi hay không ???

===================

Hiện trường đánh đố (chi tiết)

Fred Oesterreich thường xuyên nghe thấy những tiếng động lạ trên gác mái nhà mình trong 1 năm nhưng mỗi lần ông định kiểm tra, cô vợ Dolly lại ngăn cản. Bà nói rằng đó là do ông tưởng tượng.
Nhưng kì lạ là Fred không chỉ có 1 căn nhà. Ông có 4 căn nhà ở Milwaukee, nơi ông làm việc và mỗi lần ông và vợ đi đến 1 căn nhà và qua đêm, ở đó lại có những tiếng động lạ. Không những thế,Fred còn tinh ý phát hiện rằng 1 số đồ vật của ông bị dịch chuyển 1 cách đáng ngờ khi gia đình ông ra ngoài.

Năm 1913, lần kỉ niệm 15 năm ngày cưới, gia đình Oesterreich càng ngày càng lục đục vì tới giờ họ chưa có lấy 1 đứa con.

Câu chuyện chuyển biến vào 1 ngày bình thường, Dolly nói với Fred rằng máy khâu của cô bị hỏng và Fred đã cử 1 người trong nhà máy tới để sửa giúp cô, tên là Otto.

- Sợ lược về Otto: 1 cậu trai cao 1m5, mắt lồi (buggy eyes để biết thêm chi tiết), có khá nhiều mụn trứng cá và đeo mắt kính.

Dần dần, Otto thường đến giúp Dolly và dần thay thế cho Fred khi vắng nhà để trò chuyện. Otto cũng khá thân thiết với ông chủ của mình.... cho tới khi Otto lén lút đi du lịch cùng Dolly. Từ đó, Fred cấm Otto tới nhà mình và tới gần Dolly.

Sau đó, Fred lập thêm 1 nhà máy ở LA và chuyển nhà vài lần.

Cho tới tháng 4/1922, cảnh sát Beverly Hills nhận được một cuộc gọi từ hàng xóm của Fred Oesterreich nói rằng nghe thấy tiếng súng nổ và tiếng thét thất thanh của 1 người phụ nữ. Cảnh sát có mặt, tìm thấy xác của Fred tại phòng khách gần cửa và 1 cửa sổ mở trong nhà (vẫn là phòng kín nhé). Khám nghiệm cho thấy hung khí được bắn tại vị trí rất gần. Trong phòng ngủ của họ, người ta tìm thấy Dolly bị khóa trong tủ.

Giải thích hiện trường: vụ án này có hiện trường rất thú vị nên mình chia ra làm 3 khu vực: phòng khách -> phòng ăn -> phòng ngủ.

1. Phòng khách nơi Fred chết: Cửa ra vào bị khóa, lối từ phòng khách vào phòng ăn có 1 cái cửa, và dĩ nhiên nó khóa từ bên trong phòng khách.

2. Phòng ăn: nơi có cửa sổ mở và có cầu thang lên phòng ngủ.

3. Phòng ngủ: Cửa vào phòng khóa từ bên trong, tủ nhốt Dolly lại bị khóa bên ngoài.

Những đồ đạc đắt tiền bị lục lọi. Còn về Dolly, cô nói rằng lúc đó đang xếp quần áo thì nghe thấy tiếng dằn co trong nhà. Vừa chạy xuống thì nghe tiếng súng nên la lên và bị đánh ngất, khi tỉnh dậy thì thấy nằm ở bên trong tủ quần áo.

Cuộc điều tra ngôi nhà phát hiện mặc dù bị lục lọi nhưng thứ duy nhất bị đánh cắp là 1 chiếc đồng hồ kim cương của Fred.

Ban đầu, cảnh sát nghi ngờ do Dolly làm khi nghe cô nói về những cuộc cãi nhau, cô lập tức chối bỏ và khẳng định mình không liên quan đến vụ án, chưa kể cô còn nằm trong tủ quần áo lúc được tìm thấy. Vài tuần sau vụ án, cảnh sát đào bới vườn nhà Fred nhưng không tìm thấy hung khí và xung quanh khu vực khi nghe thấy tiếng súng đều ùa ra đường nhưng không nhìn thấy ai khả nghi.

Vài năm sau, vợ của nạn nhân gửi 1 nghìn đôla cho cảnh sát trưởng Herman Cline để lật lại vụ án. Lần này, bà cung cấp 1 vật quan trọng đó là chiếc đồng hồ bị mất cắp, Dolly nói rằng tìm thấy nó ở dưới chiếc ghế sofa mặc dù trước đó khi cảnh sát điều tra,họ nhận thấy rằng chiếc đồng hồ bị lấy đi từ chính cổ tay cái xác. Không lẽ lấy đi rồi lại để dưới gầm ghế ???

Khẩu súng được cảnh sát bí mật tìm ra, nó ở bảo tàng La Brea Tar Pits. Nhưng về đêm....bảo tàng đóng kín chứng tỏ hắn đã tới bảo tàng vào buổi sáng để bỏ lại hung khí hoặc có cách nào đó để đột nhập vào buổi đêm. Trên súng có dính máu của Fred.

Tháng 7/1923, Dolly bị bắt vì giết chồng vì lời khai không thuyết phục.

7 năm trôi qua, vụ án chìm vào quên lãng, cho tới khi luật sư Shapiro ra mặt và nói rằng ông có thế giúp cảnh sát điều tra kẻ giết người thật sự. Và thông tin về kẻ tình nghi duy nhất của ông là.... Otto.

Otto đã đứng ra trước cảnh sát và thừa nhận rằng mình giết Fred. Đêm xảy ra vụ án, Otto đã cùng về với Fred và có cuộc nói chuyện xảy ra xô xát với Fred và bắn chết anh. Nhưng thú bị là đêm đó ấy, hàng xóm khẳng định chỉ có 2 vợ chồng về nhà. Chưa hết, lời khai của Otto chỉ nói tới việc anh trốn thoát bằng cửa sổ,nhưng khi cảnh sát hỏi anh làm sao để tạo ra 1 hiện trường kì dị như vậy.

Otto hoàn toàn không biết 1 chút gì và khẳng định lúc mình chạy trốn còn thấy Dolly đứng nhìn. Sau đó, 1 tổ điều tra đã đi theo Otto trong vài tháng nhưng không thấy anh ta liên lạc với bất cứ ai lạ mặt.

Otto sau đó được thả và vụ án khép lại không có 1 chút manh mối nào về kẻ giết người thật sự.

================

Chết đói ????

Mary Jane (spooderman) Barker là 1 cô bé 4 tuổi sống ở Bellmawr, New Jersey. Vào lúc 10:30 sáng ngày 25/2/1957, Mary biến mất khi đang chơi với chú chó spaniel của hàng xóm ở gần nhà.

Sau khi tìm kiếm, cảnh sát Edward Garrity xác định đây là 1 vụ bắt cóc do có 1 dấu chân đàn ông gần 2 dấu chân: của Mary và của chú chó dẫn tới 1 bãi bùn rồi biến mất.

Ngày 3 tháng 3, cô bé Maria Freitta 6 tuổi, hàng xóm của gia đình Barker và chủ chú chó bị mất, cùng với cậu và dì của cô đi tới 1 nhà trọ mà họ vừa mới mua lại. Khi Maria mở cửa buồng ngủ bằng chìa khóa, chú chó của cô xông thẳng ra ngoài. Bên trong buồng có thêm xác của Mary Jane chết đói trong tư thế ngồi, chiếc áo khoác màu xanh của Mary phủ kín đầu cô. Căn phòng bị khóa từ bên trong nhưng chiều cao của Mary còn không với tới được nắm cửa.

Mary được xác định là chỉ chết cách đây 2 ngày, tức là có lẽ cô đã bị nhốt vào trong buồng trong 3 ngày đầu tiên.

Điều kì lạ là căn nhà chỉ vừa mới được phục hồi từ chính phủ, cả chục người đã vào đó để kiểm tra 3 lần nhưng không ai thấy Mary và trong phòng có đầy đủ dấu vết chứng tỏ Mary đã ở trong buồng trong 3 ngày trước khi chết. Thậm chí chủ nhà trước đã đi kiểm tra nhưng không thấy dấu vết của cô và chú chó.

Xét nghiệm cho thấy cô không bị đánh đập, cưỡng hiếp mà chỉ chết đói. Cuộc khám nghiệm còn cho thấy 1 mẩu thức ăn duy nhất trong bụng cô là 1 chút bánh quy socola cùng loại với thứ cô ăn vào buổi sáng cô mất tích. Chú chó đã ở chung với Mary Jane suốt 5 ngày nhưng người ta không thể xác định làm sao nó lại còn sống sót. Trong phòng có nhiều lỗ nhỏ khẳng định cô không bị chết ngạt và trong phòng không có dấu hiệu của khí lạ.

1 số câu hỏi được đặt ra là:

- Ai có thể bắt nhốt Mary vào buồng ngủ của 1 căn nhà đang bị chính phủ quản lí ???
- Dấu chân lạ đó rốt cuộc là của ai ???
- Tại sao Mary lại không được tìm thấy ở 3 lần lục soát căn nhà đó ???
- Có thể tên bắt cóc có họ hàng với Mary hay không ???
- Có phải việc Maria tìm thấy xác bạn cô trong buồng là trùng hợp ???
- Có lẽ nào 1 cô bé 4 tuổi lại bị chết đói trong khi chú chó lại sống 1 cách bth ???
- Đây có phải là 1 vụ án được lấp liếm, 1 sự kiện kì dị hay 1 tai nạn ???

Giả thuyết mới: Đại kim tự tháp Giza là trạm phát điện tiên tiến thời cổ đại


Đại kim tự tháp Giza ở Ai Cập không chỉ là lăng mộ của Pha-ra-ông, mà còn có thể là một trạm phát điện không dây tiên tiến thời cổ đại.

Mục đích thực sự của Đại kim tự tháp Giza là gì? Nó được tạo ra chỉ để làm nơi yên nghỉ cho các Pha-ra-ông? Nó được xây bởi người Ai Cập cổ đại để cất giữ hạt giống? Hay, có một giả thuyết thứ ba, một giả thuyết cực kỳ hấp dẫn có thể giải thích một lần và mãi mãi mục đích thực sự của một trong 7 kỳ quan của thế giới cổ đại này?

Đại kim tự tháp Giza. (Ảnh: Internet)

Theo nhiều người, nhà bác học thiên tài Nikola Tesla có thể đã khám phá ra mục đích thực sự của Đại kim tự tháp Giza. Người Ai Cập cổ đại có thể đã đặt nền móng cho một công nghệ mà phải đến hàng ngàn năm sau mới được biết đến, chỉ ít một phần, bởi Nikola Tesla.

Ngoài vẻ hùng vĩ tuyệt vời của nó, Kim tự tháp Giza có thể ẩn chứa nhiều bí mật hơn chúng ta tưởng tượng.

Từ lâu, một luận điểm đã được công nhận rộng rãi là những nền văn minh cổ đại sở hữu một trình độ công nghệ vô cùng tiên tiến, ví như trong điện hóa học, điện từ, luyện kim, hóa học, vật lý, toán học, … từ hàng ngàn năm trước khi chúng được xã hội hiện đại “tái phát hiện”.

Bằng chứng về những công nghệ này hiện hữu ở Ai Cập cổ đại cũng như Sumer và các nền văn minh cổ xưa khác trên thế giới.

Tuy nhiên, Đại kim tự tháp Giza có lẽ là một trong những “công nghệ” vĩ đại nhất từng được tổ tiên chúng ta phát minh ra từ hàng ngàn năm trước.

Nhưng công nghệ này cụ thể là gì? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta hãy cùng điểm qua một số thành phần cấu tạo rất đặc thù của Đại kim tự tháp.

Lớp bên ngoài của kim tự tháp được cấu thành từ đá vôi trắng tufa, không chứa hàm lượng magie khiến nó có đặc tính cách điện tốt, từ đó ngăn chặn nguồn điện năng bên trong hao hụt ra bên ngoài. Hơn nữa, các khối đá được xếp khít đến nỗi thậm chí một lưỡi dao lam cũng không thể chui lọt. Người ta tin rằng chính tính chất cách điện tinh vi này cho phép người Ai Cập cổ đại hoàn toàn kiểm soát được việc phát điện ra từ bên trong.

Bề mặt kim tự tháp Giza ngày nay. (Ảnh: Internet)

Kim tự tháp Giza từng được phủ bên ngoài bằng các khối đá vôi trắng. (Ảnh: Internet)

Kim tự tháp Giza trong quá khứ. (Ảnh: Internet)

Không chỉ vậy, các khối đá cấu tạo nên phần bên trong kim tự tháp được làm từ một loại đá vôi khác, chứa lượng nhỏ tinh thể và kim loại, hai thành phần quan trọng giúp tối ưu hóa việc truyền tải điện năng.

Ngoài ra, các ống thông khí được xây bên trong Kim tự tháp được làm từ đá granit có tính phóng xạ nhẹ, cho phép ion hóa không khí bên trong. Đặc điểm này giống với dây cáp điện, với lõi bên trong dẫn điện và vỏ bên ngoài cách điện.

Dựa trên các đặc điểm trên, giả thuyết được đưa ra là Đại Kim tự tháp Giza chính là một nhà máy điện khổng lồ có khả năng sản sinh một nguồn điện năng tự do không dây. Tuy giả thuyết này đã bị nhiều học giả phủ nhận, nhưng nó có thể giải thích nhiều điều bí ẩn về Kim tự tháp và xã hội tiên tiến định cư bên bờ sông Nin vào hàng ngàn năm về trước.

Quần thể kim tự tháp trên cao nguyên Giza được dựng lập bên trên các lớp đá vôi nằm bên dưới (lớp đá ngậm nước), và khoảng trống giữa chúng chứa một lượng nước lớn. Những lớp đá ngậm nước này có khả năng truyền dẫn điện năng lên phía trên khi chúng đẩy lượng nước ngầm lên bề mặt. Cụ thể, lưu lượng lớn của dòng sông Nin khi đi xuyên qua các hốc đá này sẽ có khả năng tạo ra dòng điện, gọi là dòng điện vật lý.

Điều thú vị là, công nghệ cổ đại này đã thất lạc trong lịch sử, và chỉ mới được tái phát hiện gần đây bởi nhà bác học thiên tài Nikola Tesla. Tesla đã xây dựng tháp Wardenclyffe trong khoảng 1901-1917, trong đó ông ứng dụng một loại công nghệ gần như tương tự. Tháp của Tesla được cho là cũng được xây dựng trên các lớp đá ngậm nước, nghĩa là công nghệ tạo điện năng của Tesla gần như tương đồng với của Đại Kim tự tháp. Cả Đại Kim tự tháp Giza lẫn tháp Wardenclyffe của Tesla đều là các hệ thống sản sinh ion âm và có khả năng truyền tải chúng không cần dây điện, một nguồn năng lượng hoàn toàn không dây và miễn phí, cung cấp năng lượng cho các thiết bị điện khác qua khoảng cách xa.

Trái: Kim tự tháp Giza; Phải: Tháp Wardenclyffe của Tesla. (Ảnh: Internet)

Liệu Ai Cập có phải là xã hội duy nhất sử dụng công nghệ điện không dây? Di tích của người Maya và Assyria cũng chứa hình ảnh về loại hình công nghệ tương tự mà họ áp dụng cho kim tự tháp của họ. Một xã hội tồn tại cách đây hàng ngàn năm đã sở hữu những công nghệ tiên tiến ngang bằng, thậm chí vượt quá con người hiện đại trong thế kỷ 20.

Luôn có một con người khác nữa tồn tại trong bạn?


Bạn có biết rằng trong bản thân mỗi con người luôn tồn tại một con người khác nữa. Tại sao lại có con người này? Khi nào con người này xuất hiện. Bài viết dưới đây sẽ cho bạn câu trả lời.


Ngày xửa ngày xưa, nguồn gốc của bạn được giải thích rất dễ hiểu. Bố bạn gặp mẹ bạn, họ có chút vui vẻ cùng nhau, và từ một quả trứng nhỏ xíu được thụ tinh, bạn gào khóc ầm ĩ hòa nhập với thế giới. Bạn là một nửa của mẹ, một nửa của bố - vậy là thành 100% con người của bạn.

Nhưng, câu chuyện đơn giản trên đã trở nên phức tạp hơn nhiều. Ngoài các gene từ bố mẹ, bạn còn là một ổ chứa những virus, vi khuẩn – và rất có thể là cả những thành phần của người khác.

Thực vậy, nếu bạn là trường hợp sinh đôi, cơ thể và bộ não của bạn rất dễ chứa đựng một chút gì đó từ người anh/chị em sinh đôi của bạn. Điều lạ lùng nữa là, chúng có thể ảnh hưởng đến cách bạn hành động.

"Con người không phải là những thực thể cá nhân tách biệt, mà là những siêu cơ quan, tổ chức", ông Peter Kramer của trường Đại học Padua (Italy), nói. "Có rất nhiều (yếu tố) con người và phi con người khác đang tồn tại và luôn đấu tranh bên trong cơ thể chúng ta".

Gần đây, ông Kramer đã viết một bài viết trên tạp chí Khoa học Tâm lý, kêu gọi các nhà tâm lý và bác sỹ tâm thần nghiên cứu về vấn đề này, để đánh giá xem chúng ảnh hưởng như thế nào đến hành vi của chúng ta.


Điều này nghe có vẻ thật đáng sợ, song từ lâu chúng ta đã biết rằng cơ thể chúng ta là một mớ hỗn độn nhiều sinh vật, cơ thể khác nhau. Chẳng hạn, vi khuẩn trong đường ruột có thể sản sinh ra các chất truyền dẫn làm thay đổi tâm trạng của bạn; một số nhà khoa học thậm chí còn cho rằng những con vi khuẩn này khiến bạn trở nên "tham ăn", thèm ăn những loại thức ăn mà bọn vi khuẩn ưa thích.

Trong tự nhiên, vi khuẩn tác động đến não chuột, khiến chuột trở nên thu hút mèo, và đến lượt mèo sau khi ăn thịt chuột, thì cơ thể mèo lại trở thành một ngôi nhà trú ngụ mới cho vi khuẩn tái sinh.
Con người cũng có thể bị nhiễm và bị điều khiển như thế này, chẳng hạn như vi khuẩn có vẻ khiến ai đó trở nên mạo hiểm, từ đó làm tăng khả năng bị tâm thần phân liệt hoặc trầm cảm và tự tử.
Trong 6 năm qua, nhiếp ảnh gia Ariko Inaoka đã luôn chụp được sự kết nối đặc biệt giữa cặp song sinh người Iceland, Erna và Hrefna.

Điều này để nói rằng các hành động của chúng ta không hoàn toàn là do chúng ta quyết định. Tất nhiên, hẳn bạn sẽ nghi ngờ về cái gọi là bản sắc riêng của mỗi người, song sự xâm nhập của những yếu tố bên ngoài tác động đến hành động, tính cách của chúng ta còn kỳ quái hơn khi bạn nhận ra rằng, bộ não của bạn không chỉ bị tác động, xâm chiếm bởi những con vi khuẩn nhỏ bé – mà còn bị tác động bởi người khác.

Ví dụ dễ thấy nhất là trường hợp các ca sinh đôi dính liền có chung một bộ não, ông Kramer nói, nhưng ngay cả những cặp anh em sinh đôi bình thường cũng có thể "dùng chung" các cơ quan, bộ phận dù họ không thực sự nhận ra điều này. Trong thời kỳ còn ở bào thai, các tế bào có thể qua lại giữa các cặp anh em sinh đôi hoặc sinh ba.

Từng bị xem là hiện tượng hiếm thấy, song bây giờ khoa học thống kê đã cho thấy đó là điều phổ biến: có khoảng 8% các cặp sinh đôi và 21% các ca sinh ba có không chỉ một mà là hai nhóm máu: một nhóm máu được sản xuất bởi các tế bào của chính họ, và một nhóm máu được sản xuất bởi các tế bào "ngoài hành tinh" hấp thụ từ người anh/chị em song sinh của họ. Nói cách khác, sự chia sẻ này có thể xảy ra ở nhiều cơ quan khác nhau, trong đó có cả bộ não.

Một bộ não kết hợp như trên có thể có những hậu quả nghiêm trọng. Chẳng hạn, chúng ta biết rằng sự sắp xếp của các vùng não rất quan trọng đối với chức năng của nó - nhưng sự có mặt của các mô ngoại đạo chứa các gene khác nhau lại có những "mưu mô" khác nhau, và có thể khiến thiết kế bộ não rơi vào tình trạng hỗn loạn.

Điều này có thể giải thích tại sao anh em sinh đôi thường ít khi thuận tay phải như hầu hết mọi người. Có lẽ sự tồn tại của "hai con người" trong một cơ thể đã phá vỡ sự cân bằng trong các bán cầu não.
Thậm chí nếu bạn không có anh chị em sinh đôi, bạn vẫn có thể bị tế bào của người khác xâm nhập vào cơ thể. Chẳng hạn, khi bạn được hình thành trong bụng mẹ, bạn có thể chính là một trong hai bào thai nằm trong tử cung lúc đó, song trong quá trình phát triển ban đầu, cặp song thai này đã hợp lại làm một.

Vì xảy ra trong giai đoạn đầu của thai kỳ, nên mọi thứ dường như phát triển bình thường, dù thực chất bào thai đó đang chứa cả những đặc điểm di truyền của một người khác.

"Bạn trông như thể chỉ là một người, song bạn có tế bào của một người khác nữa bên trong bạn – nói đúng ra, luôn có hai người tồn tại trong con người bạn", Kramer nói. Thậm chí đã có trường hợp, một phụ nữ vô cùng kinh ngạc khi được nói rằng cô không phải là mẹ ruột của hai đứa con do cô sinh ra.
Lý do là, các tế bào của một người chị em khác đã tồn tại trong cơ thể người phụ nữ này, và chúng đã tìm cách chui vào cơ thể của bào thai khi người phụ nữ mang thai.

Thậm chí, Lee Nelson, đến từ trường Đại học Washington, còn phát hiện ra rằng ngay cả khi là một người trưởng thành, bạn vẫn có thể bị người khác xâm nhập vào bên trong cơ thể bạn.

Cách đây vài năm, Nelson và William Chan của trường Đại học Alberta ở Edmonton đã nghiên cứu mô não của phụ nữ và phát hiện ra khoảng 63% trường hợp chứa các tế bào nam

"Chúng tôi không chỉ tìm thấy ADN nam giới trong não nữ giới, mà còn phát hiện ra chúng có ở nhiều vùng não", Chan nói. Nói cách khác, bộ não của những phụ nữ trong nghiên cứu này đã có các tế bào từ cơ thể của một người đàn ông. Trong trường hợp này, kết luận đưa ra có thể là: khi mang thai con trai của mình, các tế bào gốc của con trai đã tìm cách đi qua nhau thai và ngụ lại não bộ của người mẹ.

Kỳ lạ là, điều này dường như có lợi cho người mẹ, giúp người mẹ giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer - mặc dù lý do chính xác vẫn còn là một bí ẩn. Một số nhà nghiên cứu thậm chí còn bắt đầu tự hỏi liệu những tế bào đó có thể ảnh hưởng đến tư duy của người mẹ trong khi mang thai không.

Kiến thức của chúng ta về "các siêu cơ quan" trong cơ thể con người vẫn còn rất mới mẻ, vì thế nhiều kết luận vẫn hoàn toàn mang tính lý thuyết.

Mục đích của Kramer không phải là đưa ra những câu trả lời rõ ràng, mà là để nhấn mạnh với các nhà tâm lý và bác sỹ thần kinh về việc điều gì quyết định chúng ta là ai. "Chúng ta không thể hiểu hành vi con người bằng việc chỉ xem xét một cá nhân", Kramer nói. "Cuối cùng, chúng ta phải hiểu rõ vì sao chúng ta lại cư xử như thế".

Chẳng hạn, các nhà khoa học thường so sánh các cặp song sinh để hiểu về nguồn gốc của hành vi, nhưng thực tế ngay cả những cặp song sinh không giống nhau cũng có thể có những mô não của nhau. Chúng ta cần phải đặc biệt cẩn thận khi sử dụng các nghiên cứu về những trường hợp sinh đôi để tìm hiểu về các ca như tâm thần phân liệt phát sinh từ tổ chức não bị lỗi, Kramer nói.

Tuy nhiên, nhìn chung chúng ta không cảm thấy thù hận gì đối với những "kẻ lạ" xâm nhập vào cơ thể chúng ta – bởi sau tất cả, những kẻ lạ này cũng đã góp phần tạo nên con người chúng ta. "Tôi nghĩ những người nhập cư tự nhiên này ở với chúng ta rất lâu, dù với lý do tốt hơn hay tệ

Đây là vị vua khiến cả La Mã kinh sợ mà vẫn thán phục!


Vua Mithradates VI của xứ Pontus, kẻ thù đáng sợ nhất của đế chế La Mã, được mệnh danh là “Vua thuốc độc”, bởi ông thường xuyên dùng thuốc độc để tránh bị sát hại bởi thuốc độc như cha mình.

Vua Mithradates VI của Pontus (120-73 TCN). Ảnh Wikipedia


Mithradates VI – “Món quà của Mithra”, là vua xứ Pontos ở miền Bắc Tiểu Á (Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) từ khoảng 120 – 63 TCN. Ông là một nhà nghiên cứu chất độc tài ba và thường được nhắc đến như là “Vua thuốc độc”.

Vua Mithradates VI của Pontus thuộc dòng dõi của Alexandros Đại đế của Hy Lạp và Darius I của Ba Tư. Ông là một vị vua hung dữ, đầy quyền lực và là một trong những kẻ thù đáng gờm nhất của Cộng hòa La Mã.

Ông đã gây dựng nên một đế chế trải dài từ phía Bắc của Biển Đen tới Syria và Armenia.

Bản đồ vương quốc Pontus, Trước triều đại của Mithridates VI (tím đậm), Sau những cuộc chinh phục của ông (tím), Những vùng đát ông chinh phục trong chiến tranh Mithridates (hồng). Ảnh Wikipedia.

Người La Mã cực kỳ căm ghét vua Mithradates VI, đặc biệt sau lệnh giết 80,000 người La Mã ở khu vực Tây Tiểu Á năm 88 TCN, được biết đến trong thế giới cổ đại là sự kiện Asiatic Vespers.

Trong khi đó, Mithradates VI lại được người Hy Lạp và Ba Tư ca ngợi như một "vị cứu tinh" khỏi lối cai trị áp bức của La Mã, và người La Mã gọi ông là "Hannibal của phương Đông”.

Mặc dù, các danh tướng La Mã nhiều lần đánh thắng được Mithradates VI nhưng họ chưa bao giờ "sờ gáy" được ông. Sau nhiều cuộc chiến dài lâu mang tên ông, đến cả người La Mã cũng phải tỏ lòng thán phục kẻ thù hung dữ nhất của họ.

Trong thời kỳ này, Mithradates VI còn được biết với cái tên Mithridates Đai Đế hay Mithridates vĩ đại và Eupator Dionysius. Cái tên này được ghép lại bởi 2 từ: “Eupator”-được sinh ra từ một người cha dòng dõi quý tộc và “Dionysius”- một vị thần rượu nho trong thần thoại Hy Lạp.

Tượng của vua Mithradates VI ở viện bảo tàng Louvre, Pháp

Vua Mithradates VI rất “mẫn cảm” với thuốc độc, và ông thường xuyên sử dụng một lượng nhỏ chúng để giúp ông có “sức đề kháng” với chúng, tránh việc bị ám sát bởi thuốc độc.

Ông bị ám ảnh bởi cái chết của vị vua tiền nhiệm cũng là cha ông, vua Mithridates V, người đã bị sát hại bởi thuốc độc trong một bữa tiệc lớn vào năm 120 TCN tại thành phố của Sinope – nơi mà Mithradates được sinh ra.

Và tất nhiên, Mithradates VI cũng có rất nhiều kẻ thù, và không có lý do gì mà chúng “đặc cách” cho ông không phải chết một cách tương tự như thế.

Lo sợ mình sẽ chết bởi một cách “không chính đáng”, vua của Pontus quyết định lên kế hoạch “luyện tập với thuốc độc” và tự bắt mình thực hiện nghiêm túc kế hoạch đó.

Đầu tiên, để có những kiến thức nhất định về thuốc độc, ông bắt đầu trộn lẫn các thảo mộc với nhau, tạo ra những chất độc có thể làm chết người.

Sau đó, ông sử dụng một lượng vừa đủ (do ộng định lượng là đủ), vừa không gây chết người, vừa có thể giúp ông tăng hệ miễn dịch với thuốc độc.

Ông nghiên cứu tất cả những thảo mộc ông kiếm được, và tham khảo một số cố vấn đáng tin cậy của mình. Vua Mithradates uống thuốc độc hằng ngày.

Mithradates VI cũng sáng chế ra một loại thuốc có tên “Thuốc giải độc vạn năng - Mithridatium”, và được một thầy thuốc khác hoàn thiện.

Hiện nay, công thức nguyên bản của nó đã bị thất lạc, nhưng những sử gia cổ đại đã ghi chép rằng thành phần bao gồm: Thuốc phiện, rắn vipe băm nhỏ và tổng hợp giữa những liều lượng nhỏ chất độc và thuốc giải chúng.

Nghiên cứu này của ông là một bước tiến quan trọng trong lĩnh vực y tế thời cổ đại, nằm trong những phát minh cổ đại vượt ra sự hiểu biết của con người hiện đại.

Vua thuốc độc.

Trong thời đại của chúng ta ngày nay, phương pháp luyện tập này được biết đến như “Sự miễn dịch thuốc độc – Mithridatism”.

Tuy nhiên, không phải ai cũng được phép thực hiện cách này, chỉ có một số thành phần, hoạt động trong lĩnh vực nhất định, ví dụ như người điều khiển rắn, hay người nghiên cứu thuốc độc.

Cuộc chiến của Mithradates chống lại La Mã kéo dài 4 thập kỷ, nhấn chìm 3 lục địa.

Cuối cùng, phần thắng giành cho Cộng Hòa La Mã, vua Mithradates VI đành phải nhận lấy thất bại, mất vương quốc và mất cả vợ con.

Tuy nhiên, việc này đã khiến Cộng Hòa La Mã chao đảo, từ cuộc nổi dậy của nô lệ, trên bờ vực thành sự tự hủy diệt và buộc phải tự đổi mới.

Khi vua Mithradates VI chứng kiến mọi thứ cả đời mình đấu tranh để có được bị mất, ông đã rút lui trong nhục nhã đến thành lũy cuối cùng ở Panticapaeum.

Đến đây, ông lại bị bao vây bởi một kẻ thù khác, người này cũng bị ông cướp quyền trị vì.

Vị đại đế - kẻ thù của La Mã, nhận thấy không còn cách tháo chạy nào, đã đến đường cùng, và cuối cùng ông chọn cái chết trong danh dự, đó là…tự tử.

Tuy nhiên, do những tháng ngày chăm chỉ luyện tập cùng thuốc độc, đến giây phút cuối cùng, nó lại là kẻ thù lớn nhất của ông, dù đã cố gắng tự kết liễu mình bằng thuốc độc, nhưng nó lại bị làm “vô hiệu hóa”, trở nên vô ích.

Cuối cùng, vua Mithradates VI phải kết thúc cuộc thúc cuộc đời của mình bằng một thanh kiếm của một người lính.

Mithridates VI tự tử, dẫn đến sự kết thúc của Vương quốc Pontus, kẻ thù “kinh hãi” của Cộng hòa La Mã.

Vua Mithradates VI "là vị vua lớn nhất kể từ sau Alexandros Đại đế".

Ngày nay, không nhiều người biết đến lịch sử về vua Mithradates VI của Pontus, người đã thách thức đế quốc La Mã hơn 2,000 năm trước.

Tuy nhiên, trong thời cổ đại và trung cổ, và ngay cả sang thế kỷ 20, Mithradates VI lại nổi tiếng như tướng Hannibal (247-183/182 TCN), Spartacus (109-71 TCN), Nữ hoàng Cleopatra VII (51 -30 TCN) của Ai Cập.

Cuộc đời ông đã truyền cảm hứng cho các nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ… Các họa sĩ thời Trung Cổ vẽ lại những cảnh đau xót dưới thời ông, ca tụng ông là một "Hiệp sĩ bóng đêm" hào hiệp đã chiến đấu với những tên bạo chúa La Mã.

Nhà thơ Machiavelli (1469-1527) khen ông là một anh hùng quả cảm và triều đại ông cũng lôi cuốn Louis XIV của Pháp.

Vua Mithradates VI cũng đã được tái hiện qua vở bi kịch "Mithridate" do nhà soạn kịch Pháp là Jean Racine (1639-1699) sáng tác.

Ngoài ra, Mithridates còn thu hút nhà soạn nhạc đại tài Wolfgang Amadeus Mozart viết nên vở nhạc kịch đầu tiên của mình khi mới 14 tuổi: Mitridate, re di Ponto (1770).

Bí bẩn con búp bê mặt quỷ mang lại may mắn cho chủ nhân nó

Như chúng ta đã biết, trên thế giới có khá nhiều câu chuyện về những con búp bê quái dị, mang đến vô số tai ương cho chủ sở hữu. Tuy nhiên, có lẽ búp bê Letta là một ngoại lệ.


Mặc dù cũng có nhiều hành động bí ẩn và khiến người xung quanh phải sợ hãi, nhưng búp bê này chưa gây ra điều gì xấu xa mà ngược lại, Letta còn giúp chủ nhân của mình gặp nhiều thuận lợi trong kinh doanh.Câu chuyện bắt đầu vào năm 1972 khi một người đàn ông tên Kerry Walton trở về nhà mình tại Australia để dự đám tang của bà nội.

Trong thời gian này, ông quyết định sẽ đối mặt với nỗi sợ hãi thời thơ ấu bằng cách đi vào một ngôi nhà bỏ hoang đã ám ảnh ông suốt nhiều năm tuổi thơ. Trong lúc "thám hiểm", Kerry Walton phát hiện ra một con búp bê đã cũ. Một cảm giác kỳ lạ xuất hiện trong lòng Kerry. Ông ngỡ như mình và con búp bê đã gặp nhau từ bao giờ và có gì đó đã thôi thúc buộc ông phải đem nó về nhà.

Sự bắt đầu của những bí ẩn !

Căn nhà hoang đã tồn tại hàng trăm năm, sau khi con búp bê rời đi thì chỉ một tháng sau đã bị dỡ bỏ. Kerry tin rằng, con búp bê đã biết trước mọi việc và điều khiển hành động của ông. Ngoài ra, ông còn phát hiện mái tóc của búp bê rất giống tóc thật và khi mở phần đầu của búp bê ra thì điều đáng sợ kế tiếp xuất hiện, bên trong đầu búp bê thực sự có thứ gì đó giống một bộ não.


Theo lời kể của Kerry, ông đã gặp rất nhiều chuyện kỳ lạ kể từ khi đem con búp bê về. Chú chó giống Corgi vốn thường ngày điềm tĩnh của ông bỗng trở nên cực kỳ hung dữ khi lần đầu nhìn thấy con búp bê. Sau đó, người thân của Kerry nói rằng họ cảm thấy ghê rợn vì hình dạng con người của Letta. Có người nói: “Ánh mắt của nó cứ như nhìn chằm chằm vào bạn suốt cả ngày vậy”.

Lũ trẻ trong nhà Kerry có thể chơi với búp bê bình thường vào ban ngày nhưng khi để con búp bê ở cùng chúng qua đêm thì sáng hôm sau, lũ trẻ thường tỉnh dậy và khóc thét. Vì thế, ông Kerry buộc phải để búp bê ở nhà dưới.Kerry đã sống cùng con búp bê của mình trong vòng 5 năm cho đến khi ông quyết định đưa nó đến bảo tàng ở Sydney.

Trời bắt đầu mưa nặng hạt khi ông đặt con búp bê trong xe. Kerry cảm thấy ớn lạnh và ông muốn mau chóng xem thử con búp bê sẽ như thế nào khi tới nơi công cộng.Khi tiếp nhận búp bê, các chuyên gia bảo tàng Sydney cho Kerry biết con búp bê này khoảng 170 - 200 tuổi. Nó được tạo ra bởi một nghệ nhân người Gypsy.


Tộc người du mục này tin tưởng tuyệt đối vào sự chuyển đổi linh hồn. Do đó, con búp bê có thể đóng vai trò như một vật trú ngụ linh hồn ai đó đã qua đời. Tới thời điểm này, cái tên Letta mới ra đời, bởi có người khẳng định đã nghe thấy búp bê hét lên “Letta me out!" (thả tôi ra) Vì sự hiếm có và tuổi đời của con búp bê, Kerry nghĩ rằng ông có thể rao bán nó với một mức giá tốt. Nhận được một đề nghị mua lại Letta, Kerry đã đặt búp bê ở đằng sau xe và lái đến chỗ người mua. Trời lại mưa và khi đến nơi, đột nhiên ông cảm thấy mình như bị dính chặt vào ghế và không có cách nào để ra khỏi xe.

Búp bê bí ẩn giúp ông chủ đổi đời !

Letta không phải là một con búp bê xấu xa hay gieo rắc bất hạnh. Ngược lại, khi nó cảm nhận được những khó khăn về tài chính của chủ nhân, Letta đã nhanh chóng giúp ông kiếm được bộn tiền.Letta trở thành nhân vật chính trong các talk-show nổi tiếng. Nhờ đó, công việc buôn bán đồ cổ của Kerry trở nên phát đạt. Nhiều người gợi ý Kerry có thể kiếm lợi bằng cách đem Letta đến Mỹ để thực hiện một loạt các talk-show nhưng ông đã từ chối.

Thay vào đó, ông đồng ý với đề nghị của một nhà chiêm tinh nổi tiếng tại Australia - quê hương ông - để cùng Letta thực hiện các buổi biểu diễn xuyên đất nước.Đặc biệt, ngay cả khi tham gia các chương trình truyền hình, Letta cũng không ngừng tạo ra những điều bí ẩn. Trong một talk-show, Letta được sắp xếp để "gặp" một nhà ngoại cảm nổi tiếng. Tuy nhiên, khi búp bê xuất hiện, tranh trên tường lập tức rơi xuống sàn và các đồng hồ dừng lại đột ngột không rõ nguyên nhân. Rồi khi những người quay phim đặt nó vào lòng nhà ngoại cảm, nhiều khán giả thấy Letta quay đầu và nhìn thẳng vào ống kính. Một người quay phim đã đứng chôn chân và sau đó bỏ chạy ra khỏi cửa.

Khoa học vào cuộc nhưng bất lực !

Khi một tạp chí của Australia đăng tải bài viết về con búp bê và những điều kỳ bí của tâm linh, một nhóm các nhà điều tra hiện tượng huyền bí của Mỹ đã đến gặp Kerry để tiến hành nghiên cứu đặc biệt.Song tất cả những gì họ thu được chỉ là nguồn gốc có phần hư cấu của con búp bê kỳ lạ này.


Theo họ kể lại, trong con búp bê là linh hồn của một cậu bé 6 tuổi bị mắc kẹt trên con tàu gỗ. Cậu đã mất sau khi con tàu gặp phải bão trong một khu vực hẻo lánh ở Romania. Cha của đứa trẻ đã tạo nên hình nộm này và thực hiện một buổi lễ để chuyển giao linh hồn đứa trẻ vào trong búp bê. Tiếp đó con búp bê được đưa đến Australia bởi một người nhập cư và đã ở tại ngôi nhà hoang năm xưa cho tới khi gặp Kerry. Và sau cuộc gặp gỡ định mệnh ấy, Kerry sẽ không thể thoát khỏi con búp bê.Cho tới nay, đây vẫn là một trong những bí ẩn chưa thể giải đáp của thế giới.

Sao lùn đe dọa dội “mưa” tiểu hành tinh vào hệ Mặt Trời

Một sao lùn có khả năng dội “mưa” tiểu hành tinh vào hệ Mặt Trời và tiêu diệt sự sống trên Trái Đất.

Sao lùn HIP 85605, một trong 14 sao đang hướng đến Trái Đất, có khả năng bắn các tiểu hành tinh trong đám mây tinh vân Oort vào hệ Mặt Trời, đe dọa sự sống trên Trái Đất, Express ngày 15/7 đưa tin. Khả năng sao này đến được Oort ở rìa hệ Mặt Trời là 90%, theo các chuyên gia.

Vị trí của hệ Mặt trời và đám mây tinh vân Oort. (Ảnh: NASA).

“Dù các vật thể hiếm khi gặp nhau trong vũ trụ do khoảng cách rất xa nhưng tác động từ lực hấp dẫn của một ngôi sao là rất lớn”, Alan Duffy, nhà vật lý học vũ trụ tại đại học Swinburn, Australia phân tích.

Theo Duffy, các vật thể được neo lỏng lẻo bên trong Oort có thể rung lắc chỉ vì tác động của một lực cách đó một năm ánh sáng. Các vật thể tại đây cũng từng bị bắn vào hệ Mặt Trời do tác động của sao ở gần.

Tiến sĩ Coryn Bailer-Jones của Viện Thiên văn học Mac Planck, Đức trong nghiên cứu đăng trên tạp chí Astronomy & Astrophysics cho biết sau khoảng 240.000 năm tới, HIP 85605 có khả năng cách Trái Đất khoảng ba năm ánh sáng.

Vị trí của HIP 85605 có thể không chính xác do trở ngại trong việc đo lường.HIP 85605 nằm trong chòm sao Hercules, cách Mặt Trời khoảng 18-28 năm ánh sáng.

Wednesday, July 19, 2017

“Ma nữ” Italia: Từ bà nội trợ trở thành trùm mafia khét tiếng nhất mọi thời đại

--------------------------------------
Cuộc đời đưa đẩy đã khiến một người phụ nữ Italia hiền lành trở thành nữ trùm trong giới xã hội đen, đứng đầu các cuộc tàn sát đẫm máu, buôn lậu và rửa tiền để rồi phải kết thúc đằng sau song sắt nhà tù.

Nguy cơ suy tàn của một dòng tộc

Italia không chỉ nổi tiếng với những cảnh đẹp nên thơ mà còn được cả thế giới ngầm biết đến khi là cái nôi của các tổ chức tội ác có quyền lực hùng mạnh toàn cầu. Trong đó, Camorra là “gia tộc” khiến cảnh sát bao phen bất lực bậc nhất tại quốc gia hình chiếc ủng này.

Băng đảng mafia khét tiếng Camorra là một trong những tổ chức tội phạm lớn và lâu đời nhất Italia, từng gây nên nỗi khiếp đảm với các cuộc tàn sát đẫm máu, buôn bán vũ khí, ma túy, tống tiền, cho vay nặng lãi hay cá cược. Theo thống kê, hơn 4.000 người đã bị Camorra sát hại trong vòng 30 năm.
Không giống cấu trúc của các tổ chức mafia khác với một nhân vật đứng đầu, Camorra gồm hơn 100 dòng tộc khác nhau hoạt động độc lập và quyền lực ngang nhau. Điều này khiến Camorra không bị lung lay khi những tên trùm đứng đầu bị bắt hoặc giết. Tuy nhiên, cũng vì thế mà ngay trong nội bộ băng đảng cũng thường xuyên diễn ra các cuộc xả súng, ám sát, thanh toán lẫn nhau giữa các dòng tộc.

Trong số hơn 100 dòng tộc ấy, Pianese được coi là môt trong những dòng tộc lớn mạnh nhất trong mạng lưới Camorra về số lượng, sức mạnh kinh tế và độ tàn nhẫn. Người đứng đầu Pianese chính là Nicola Pianese, một nhân vật máu mặt mà các đối thủ khác trong thế giới ngầm Italia hết sức dè chừng.

Bước ngoặt lớn của Pianese xảy ra vào năm 2006, khi Nicola Pianese bị bắn chết trong một âm mưu thanh toán lẫn nhau giữa các đảng phái, ở tuổi 45. Như “rắn mất đầu”, đế chế Pianese hùng mạnh có nguy cơ tan rã.

Khi bà nội trợ… cầm súng

Trước tình cảnh này, không muốn công sức cả đời của chồng mình đổ xuống sông xuống biển, Raffaella D'Alterio từ một bà nội trợ theo đúng nghĩa đen đã đứng lên tiếp quản dòng tộc Pianese. Tuy nhiên, bà trùm này đã nhanh chóng chứng minh khả năng đáng nể của mình chẳng kém cánh mày râu. D’Alterio tham gia tất cả các hoạt động tống tiền, sản xuất tiền giả, buôn ma túy và được mệnh danh là “The Big Female Kitten” (Mèo cái lớn).

Năm 2009, D’Alterio bị chính đồng bọn bắn trọng thương do nhóm này tranh giành đường dây buôn bán ma túy bất hợp pháp béo bở mà D’Alterio kiểm soát phía nam thành phố cảng Naples. Raffaele, con trai D’Alterio, cũng bị thương trong cuộc tấn công.

“Việc làm vợ và con trai của một ông trùm khiến họ tự nhiên trở thành tội phạm hay cầm đầu một dòng tộc trong băng đảng”, luật sư Pasquale Russo của gia đình D’Alterio cho hay.

D’Alterio không ngừng thiết lập các mối quan hệ chặt chẽ với nhiều phe phái thuộc băng đảng Camorra trong lĩnh vực kinh doanh hàng giả, xử lý chất thải và xây dựng. Ước tính công ty của D'Alterio có doanh thu khoảng 218 tỷ USD/năm, thậm chí còn tham gia mua cổ phần để tái xây dựng Trung tâm thương mại New York. Tổ chức tội phạm này sở hữu mạng lưới quốc tế rộng lớn, tạo ra hàng tỷ USD lợi nhuận từ việc buôn lậu ma túy, tầm ảnh hưởng lan rộng tới cả Anh và Mỹ.

D’Alterio và đồng bọn bị bắt do cáo buộc tống tiền, sở hữu vũ khí trái phép, cướp của và buôn bán ma túy. Bà cùng nhóm tội phạm cũng được cho là đã sử dụng bạo lực và đe dọa để giải quyết tranh chấp với phe đối lập xung quanh một vụ tống tiền và giao dịch tiền giả. Để bảo vệ vị thế của mình, D’Alterio dùng mọi thủ đoạn, kể cả giết người.

Bà cũng bị buộc tội xây dựng mối quan hệ với các dòng tộc khác trong Camorra, nhúng tay vào nhiều hoạt động của băng đảng. Tổ chức tội phạm này sở hữu mạng lưới quốc tế rộng lớn, tạo ra hàng tỷ USD lợi nhuận từ việc buôn lậu ma túy, hàng giả, xử lý chất thải và xây dựng, tầm ảnh hưởng vang tiếng tới cả London, thậm chí là Mỹ.

Rạng sáng ngày 26/6/2012, Raffaella D'Alterio, khi đó 50 tuổi, đã bị bắt giữ cùng 65 nghi can khác sau một loạt cuộc tập kích của cảnh sát vũ trang. Lực lượng làm nhiệm vụ thậm chí còn phải sử dụng trực thăng và chó nghiệp vụ trong chiến dịch truy lùng này.

Cảnh sát cũng thu hồi tài sản và vật phẩm thuộc sở hữu của các nghi can, bao gồm các đại lý ôtô, quán bar, siêu thị, nhà, xe đua và tài khoản ngân hàng. Tổng giá trị những chiếc ôtô và tài sản thu hồi trong chiến dịch khoảng hơn 12,5 triệu USD

Theo sinh học, Zombie không thể tồn tại được ?!?

-Tác động của temperature, độ ẩm: Bạn đã bao giờ ở Atlanta vào tháng 8? Từ "ngột ngạt" cũng không đủ để diễn tả nỗi khổ phải chịu đựng khí hậu khắc nghiệt khi nhiệt độ lên đến 3 con số và độ ẩm cao hơn cả trong nhà kính. Bắc Dakota vào tháng giêng cũng chẳng khác gì địa ngục khi nhiệt độ thấp tới mức có thể làm đông cứng mô sống trong vài phút và phá hủy bất cứ thứ gì được đặt ở ngoài trời mà không được che chắn.

Tóm lại, tình trạng thời tiết kéo dài như vậy sẽ hủy hoại zombie theo nhiều cách. Nhiệt độ và độ ẩm cao sẽ đẩy nhanh quá trình phân hủy các bộ phận đã bị thối rữa bằng cách cung cấp các điều kiện hoàn hảo cho sự phát triển của côn trùng và vi khuẩn – những nhân tố có khả năng phân hủy bất cứ thứ gì bằng enzyme của chúng. Khí hậu khô nóng của sa mạc có thể khiến zombie khô như trấu trong một vài giờ.

Thời tiết giá lạnh cũng sẽ khiến xương của zombie trở nên giòn hơn và dễ gãy hơn rất nhiều. Ngay cả những hành động tấn công nhỏ hoặc vấp ngã cũng có thể làm cho hệ thống xương của chúng bị phá hủy hoàn toàn.

Đó còn chưa kể đến sự suy giảm gây ra bởi tia cực tím mặt trời, gió mạnh, mưa dông, mưa đá hay bão tuyết. Chắc chắn, tất cả các hiện tượng thời tiết xấu này có lẽ là lý do tại sao zombie (trong phim ảnh và truyền thuyết) thích trú ngụ trong các khu vực tương đối an toàn như tầng hầm, hang động và các nhà tù bị bỏ hoang.

- Zombie đi ngược lại các lý thuyết về sự vận động:

Tất cả chúng ta đều là những sinh vật có kết cấu. Sự vận động được hình thành nhờ liên kết giữa các cơ bắp, gân, các yếu tố thuộc về bộ xương và nhiều hơn nữa. Khi một phần của hệ thống này không hoạt động được, chúng ta sẽ không thể di chuyển. Điều này đặt ra một thách thức hóc búa rằng có quá nhiều zombie thời hiện đại có khả năng di chuyển hoàn hảo ngay cả khi xương của chúng sắp rời ra khỏi cơ thể và thịt thì treo lủng lẳng.

Hệ thần kinh trung ương của con người kiểm soát tất cả các hoạt động cơ bắp của chúng ta bằng cách truyền tín hiệu điện từ bộ não đến các tế bào cơ bắp khiến chúng co giật để phản ứng lại với các "yêu cầu" của chất xám. Nhiều loại zombie xuất hiện những vết thương ở đầu rất nặng khiến não của chúng hoàn toàn mất chức năng làm cho giả thuyết về các chuyển động phía trước của xác sống càng trở nên bất hợp lý.

-Zombie không có hệ miễn dịch:

Đây cũng chính là những gì mà xác sống phải đối mặt bởi vì chúng không hề có hệ miễn dịch. Với cơ thể mục rữa, zombie là nơi hoàn hảo để các loài vi khuẩn, nấm và virus sinh sản với số lượng vô cùng lớn. Điều này có thể khiến xác sống bị hủy hoại từ trong ra ngoài và vì chúng là thây ma nên đó có thể là một điều tốt đối với con người (nếu zombie có thật).

-Zombie không có hệ trao đổi chất:

Về lý thuyết, zombie ăn não vì chúng cũng cần được nuôi dưỡng để kéo dài khả năng hoạt động. Chỉ có một vấn đề - zombie không thực sự sống. Vì là những thành viên của một xã hội "chưa thực sự chết" (Undead), cơ thể chúng không xảy ra các quá trình chuyển hóa.

Bài dịch có tham khảo của Psychology Today.
Dich bởi Thành Đạt - Thành viên MysTown Area 1

Tại sao "nhỏ từng giọt nước lên trán" lại là một trong những biện pháp tra tấn kinh khủng nhất thế giới"???


Cũng giống như nhiều biện pháp tra tấn khác như "Căn phòng trắng", "Tra tấn bằng âm thanh, tiếng ồn", "Không cho ngủ trong thời gian dài" hay 'Biệt giam", "Nhỏ từng giọt nước lên trán" là một trong những biện pháp tra tấn khủng khiếp nhất lịch sử loài người. Biện pháp này lần đầu tiên được mô tả và thực hiện bởi luật sư kiêm bác sĩ người Ý Hippolytus de Marsiliis (1451-?) vào thế kỷ XV.

Sau khi quan sát thực tế giọt nước rơi xuống từng giọt một trên hòn đá dần dần tạo nên 1 lỗ sâu trên hòn đá đó, Hippolytus de Marsiliis đã áp dụng phương pháp này để cơ thể con người để xem tác động khủng khiếp của nó là như thế nào. Ban đầu, người ta cho nước nhỏ giọt lên các bộ phận có độ nhạy cảm cao trên cơ thể người để đo mức độ tác động.

Về sau, trán là nơi người ta dùng nhiều nhất để tra tấn vì đây là nơi tù nhân có thể nhìn thấy giọt nước rơi và tác động lên trán họ. Thời gian ngắn sẽ không sao nhưng sau 1 thời gian dài, việc lặp đi lặp lại này khiến tù nhân chỉ nhận thức được giọt nước duy nhất ở một chỗ. Việc này khiến người ta phát điên, phát khùng.

Với những tù nhân mắc trọng tội hay cần tra khảo, người ta sẽ nhốt họ vào phòng kín, không ánh sáng và cách âm.

Sau đó, cố định tay chân, đầu và đặt một dụng cụ sao cho nước chỉ chảy từng giọt một long tong lên trán tù nhân... Ban đầu, người tù nhân đấy sẽ không cảm thấy gì: Không đau đớn, không gây ngạt thở, tất cả chỉ là giọt nước nhẹ nhỏ lên đầu.

Thế nhưng, sự "đau đớn" đến cuồng nộ sẽ xuất hiện chỉ một thời gian ngắn sau. Các nhà khoa học hiện đại đã nghiên cứu và chỉ ra rằng, nếu cứ liên tục như thế trong một khoảng thời gian, mỗi giọt nước sẽ như một nhát búa đập vào hộp sọ tù nhân.

Chưa hết, âm thanh của giọt nước lúc này như những tiếng búa đập vào thanh kim loại, khiến tội nhân thấy đinh tai, nhức óc.

Họ thấy căng thẳng và bứt rứt đến hoảng loạn, phát điên. Khi sự chịu đựng tới hạn, họ sẽ chết trong uất ức, điên cuồng.

Nếu so sánh hai biện pháp tra tấn "Biệt giam và "Nhỏ từng giọt nước lên đầu" thì biện pháp "Nhỏ từng giọt nước lên đầu" sẽ kinh khủng hơn rất nhiều. Cũng giống như biệt giam, cách tra tấn bằng giọt nước không gây đau đớn về thể chất nhưng lại hủy hoại tinh thần của tù nhân, khiến họ lo lắng đến phát điên. Khi tinh thần bị "ép" đến muốn bùng nổ, họ dễ dàng chết trong đau đớn nhất. Điều khác biệt đáng sợ nhất là: Nếu như biệt giam khiến phần "con" xuất hiện và khiến tù nhân muốn tự kết liễu mình trong 1 đến 4 tuần thì tra tấn bằng nước sẽ khiến người ta phát điên, tinh thần nổ tung và muốn chết chỉ sau... vài giờ đồng hồ!

P/s: Lúc đầu tiên thì mình cũng không tin cái này. Nhưng khi đem ra làm thử thì mới biết nó kinh khủng đến mức độ nào, và mình chỉ chịu được tối đa khoảng 20 phút. Quả là một trò nghịch ngu... :v :v :v

Chia sẻ  bởi Lê Hưng - thành viên MysTown Area 1

Đặc điểm chung của các tên giết người hàng loạt tại Mỹ

Được nghiên cứu bởi các bác sĩ tâm lý tội phạm nhé !


  • Đa số là nam giới độc thân, người da trắng.
  • Chúng thường thông minh, với chỉ số IQ "trên mức trung bình".
  • Dù có chỉ số IQ cao, chúng thường gặp khó khăn khi làm việc, và thường làm các công việc phục vụ.
  • Chúng thường xuất thân từ các gia đình không ổn định hay gia đình có vấn đề.
  • Khi còn trẻ, chúng thường bị cha bỏ rơi và thường được các bà mẹ bạo ngược nuôi dưỡng.
  • Gia đình chúng thường có lịch sử tội phạm, tâm thần và nghiện rượu.
  • Chúng thường bị lạm dụng — lạm dụng tinh thần, lạm dụng thể chất và/hay tình dục — bởi một thành viên trong gia đình.
  • Chúng có tỷ lệ tự tử cao.
  • Từ khi còn nhỏ, nhiều người rất thích xem phim khiêu dâm, phim bạo lực, bái vật giáo, và thông dâm.
  • Hơn 60 phần trăm đái dầm trên tuổi 12.
  • Nhiều kẻ hứng thú với đốt lửa.
  • Chúng tham gia vào hoạt động ác dâm hay tra tấn những con vật nhỏ (zoosadism).
  • Chứng rối loạn tâm thầm hiếm khi bắt gặp ở những kẻ giết người hàng loạt. Chẩn đoán tâm thầm đặc trưng của nhóm thường là bệnh học tâm lý, có nghĩa chúng bị tổn thương các traits bên trong một nhóm đặc biệt của các đặc điểm nhân cách không hoạt động, những thứ thường được liên kết với Rối loạn nhân cách chống xã hội hay rối loạn nhân cách không thích giao thiệp.
  • Người bị bệnh không có sự cảm thông và mặc cảm tội lỗi, thường tự kỷ và bốc đồng, và không thích hợp với các tiêu chuẩn xã hội, đạo đức và pháp luật. Thay vào đó, họ thường tuân theo một bộ quy tắc riêng biệt tự tạo ra cho mình (lối sống lập dị). Họ có thể có vẻ bình thường và khá lễ độ, một trạng thái thích nghi mà chuyên gia tâm thần học Hervey Cleckley gọi là "Mặt nạ trong sạch".
  • Bộ ba Macdonald (gồm: tàn nhẫn với súc vật, chứng cuồng phóng hoả, và đái dầm thường xuyên trên tuổi lên năm) thường là những đặc điểm của những kẻ giết người hàng loạt khi còn trẻ

Chia sẻ bởi Thành Đạt - Thành viên MysTown Area 1

Bí ẩn về những ngọn đèn vĩnh cửu

- Đèn cháy hết bấc, hết dầu thì phải tắt. Thế mà vẫn có những ngọn đèn rực sáng qua hàng thiên niên kỉ mà dầu lẫn bấc vẫn còn nguyên. Phải chăng người xưa đã biết tìm ra kỹ thuật duy trì cháy trong chân không mà ko cần oxi.

- Nhà thơ trào phúng người Hi Lạp ( 120-180 ) một lần khi đặt chân đến Syrie và thăm khu vực Hierapolis, ông thấy một pho tượng lớn đặt giữa ngôi đền trên tay là một ngọn đèn vĩnh cửu. Theo lời kể của dân địa phương thì ko ai biết ngọn đèn ấy cháy từ bao giờ và bao giờ tắt. Hoàng đế La Mã Numa Pompilius cũng có 1 ngọn đèn vĩnh cửu mà ko tiết lộ vì sao nó cháy mãi

- Thế kỉ thứ 2, nhà nghiên cứu Pausanius đã mô tả khá chi tiết về 1 ngọn đèn vĩnh cửu trong tác phẩm Atlicus, có khoảng vài trăm tư liệu cũnng nói về cây đèn này. Nó nằm trong đền Minerve Polius ở Athen ( Hi Lạp ), do một người có tên là Callimadun sáng chế. Ông ta có một loại dầu đặc biệt, cho những ngọn đèn này cháy mãi. Đền thờ thần Apollon Carneus và đền Aberdain đều có một bàn thờ trên đó có ngọn đèn vĩnh cửu.

- Cháy mãi là một chuyện, còn cháy trong gió mưa lại là bí ẩn hơn nhiều. Saint Augustin (354-430) mô tả ngọn đèn vĩnh cửu trong ngôi đền là nó nằm ở phần không có mái che, bất chấp gió mưa. Tương tự như thế, ngọn đèn ở Edessa (Syrie) đã cháy suốt 500 năm trong điều kiện khắc nghiệt


- Năm 1401, trong mộ phần Pallas ( con trai vua Evandra - La Mã ). người ta tìm thấy 1 ngọn đèn vĩnh cửu và cho rằng nó đã được cháy trong 2.600 năm

- Và rồi một phát hiện chấn động đã làm thế giới khảo cổ bàng hoàng: tại đền Hator ở Denderah ( được xây dựng cách đây 4.200 năm ) có một gian phòng nằm rất sâu. Trong đó có những bức vẽ cho thấy người Ai Cập đã sử dụng công cụ kì lạ trông như bóng đèn điện ngày nay. Nhà khoa học Erich Von Daniken ( Đức ) đang cố công tái tạo những bóng đèn to tướng này trong phòng thí nghiệm, nhưng vẫn chưa tìm ra cốt lõi của vấn đề. Các nhà Ai Cập học cũng chào thua, vì rõ ràng thời ấy chưa có điện. vậy, những ngọn đèn đó được thấp sáng bằng gì ?




Sự thật về kí ức tiền kiếp

Câu chuyện bí ẩn về những người tin rằng họ từng là một công chúa Ấn Độ hay một sĩ quan tái sinh ở kiếp này nhiều khả năng là sản phẩm của một dạng trí nhớ lệch lạc, nghiên cứu mới đây cho biết.

Có thể trước kia, chính thiên hướng tạo ra ký ức sai lệch này đã khiến người ta phải vin vào lý giải về tiền kiếp. Các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu những người mà sau khi qua điều trị thôi miên, trở nên tin rằng họ có kiếp trước.

Những người này được yêu cầu đọc to một danh sách gồm 40 cái tên vô danh. Sau 2 tiếng chờ đợi, các nhà khoa học bảo với họ rằng họ sắp đọc một danh sách gồm 3 loại tên: những người vô danh mà họ từng nhìn thấy (trong danh sách trước), những cái tên nổi tiếng, và tên của những người không nổi tiếng mà họ chưa từng đọc trước đó.

Người thí nghiệm cần là xác định xem đâu là cái tên nổi tiếng.
Các nhà nghiên cứu phát hiện thấy, so với những người đối chứng (không tin vào ý tưởng tiền kiếp), những người tin vào sự tái sinh có tỷ lệ nhận nhầm tên gấp 2 lần. Đặc biệt, họ có xu hướng nhận sai những cái tên vô danh từng nhìn thấy trong danh sách trước thành người nổi tiếng. Dạng sai lệch này chứng tỏ người ta gặp khó khăn trong việc nhận ra ký ức từ đâu đến.

Những người như vậy dễ tự huyễn hoặc vào những điều không có thực, trưởng nhóm nghiên cứu Maarten Peters từ Đại học Maastricht ở Hà Lan cho biết.

Nếu họ trải qua trạng thái thôi miên và liên tục được yêu cầu nói về một ý tưởng tiềm thức nào đó - chẳng hạn cuộc sống tiền kiếp - có thể họ sẽ trở nên quen thuộc với ý tưởng này và cuối cùng biến nó thành một trí nhớ sai lầm hoàn hảo.
Đó là bởi họ không thể phân biệt những điều từng trải qua và những thứ được "nhồi" vào đầu, Peters nói.

Ký ức về tiền kiếp không chỉ là dạng sai lệch trí nhớ duy nhất được nghiên cứu trong công trình này. Richard McNally, một nhà tâm lý lâm sàng tại Đại học Harvard đã phát hiện thấy những người tự nhận là bị người ngoài trái đất bắt cóc cũng nhiều khả năng bị sai lệch trong ký ức.

Nguồn: LiveScience.

Người tiền sử đã biết sử dụng điện từ 500.000 năm trước?

Một vật thể được biết đến với tên Tạo tác Coso đã được tìm thấy tình cờ trên đỉnh một ngọn núi ở California. Tuy nhiên, điều khiến các nhà nghiên cứu “đau đầu” là nó có niên đại lên đến 500.000 tuổi nhưng lại trông như một thiết bị điện ngày nay.

Người ta tin rằng xã hội ngày nay là thời kỳ phát triển nhất trong lịch sử, bởi thế giới hiện đang sở hữu vô số các công nghệ hiện đại tiên tiến. Trong 2 thập kỷ qua, đã có sự phát triển mạnh mẽ về công nghệ trong tất cả các lĩnh vực đời sống.


Một trong những hình thức công nghệ đơn giản đã được đưa vào sử dụng trong vòng 200 năm qua là bóng đèn điện, cho phép điện đi vào hoạt động và thay đổi hoàn toàn thế giới theo một cách có thể sẽ không bao giờ lặp lại.

Lịch sử nói rằng Benjamin Franklin là gương mặt điển hình cho những lý thuyết về điện, nhờ đó con người có thể tạo ra điện mà thế giới ngày nay sử dụng. Tuy nhiên, một số báo cáo mới đây cho thấy việc ứng dụng điện vào đời sống có thể đã xuất hiện từ thời kỳ xa xưa hơn rất nhiều so với những gì chúng ta từng biết.

Trên một đỉnh đỉnh núi cao 1,3km so với mực nước biển, người ta đã phát hiện một bằng chứng chân thực về công nghệ tiên tiến cổ xưa, tồn tại từ hàng trăm năm trước sự xuất hiện của người Homo sapiens.

Vào ngày 13/2/1961, Wallace Lane, Virginia Maxey và Mike Mikesell, chủ nhân của cửa hàng đá quý và quà lưu niệm ở Olancha, California, đã đến dãy núi Coso để tìm kiếm những tinh hốc để buôn bán tại cửa hàng của họ. (Tinh hốc là một loại đá rỗng ruột bên trong chứa tinh thể thạch anh, và chắc chắn không chứa các mảnh kim loại)

Tuy nhiên, hôm ấy họ không chỉ tìm thấy các tinh hốc, mà còn phát hiện một thứ để lại câu hỏi hóc búa về lịch sử nhân loại cổ đại. Trong khi tìm kiếm, họ đã vấp phải một thứ giống như một tinh hốc nhưng trông có vẻ khác biệt. Mike Mikesell quyết định nghiên cứu thêm về cấu trúc của viên đá đặc biệt này


Điều ngạc nhiên là khi cắt đôi tinh hốc bằng lưỡi cưa kim cương, thay vì là một thạch anh như thông thường, họ đã thấy một vật thể nhân tạo bên trong.

Nó giống như một loại thiết bị cơ khí nào đó. Vật thể này chứa một lõi kim loại sáng bóng, mạ đồng và có từ tính, với đường kính khoảng 2mm, được bao phủ bởi những lớp như đất sét cứng và lớp gỗ mền hình lục giác đã hóa thạch. Mặc dù bị phơi ngoài không khí rất nhiều năm, nhưng nó không hề có dấu hiệu bị oxy-hóa.

Điều kinh ngạc hơn cả là khi chụp X-quang thì nó trông rất giống với chiếc bugi đánh lửa hiện đại hay một loại thiết bị điện tử nào đó.

Sau khi kiểm tra mẫu đá, một số nhà địa chất chuyên nghiệp cho rằng nó có niên đại ít nhất là 500.000 năm tuổi.

Sự kiện này có tầm quan trọng đặc biệt đối với các nhà khảo cổ học và địa chất, vì nó cho thấy những người tiền sử đã đạt được công nghệ tiến bộ ấn tượng vượt quá sức tưởng tượng của chúng ta. Họ đã khám phá và học cách vận dụng điện vào cuộc sống từ hàng trăm ngàn năm trước khi phát hiện này ra đời trong nền văn minh lần này của chúng ta.


Cũng giống như tất cả các hiện vật cổ xưa có thể chứa các manh mối về lịch sử cổ đại bí ẩn, vật thể này đã biến mất 3 năm sau khi nó được trưng bày chỉ trong 3 tháng tại Bảo tàng Độc lập ở Đông Nam California.

Để tìm hiểu rõ hơn về sự việc thú vị này, tháng 9/1999, người ta đã cố gắng truy tìm hiện vật bị mất tích nhưng không thành công. Họ không tìm được nơi ở của những người đầu tiên phát hiện ra Tạo tác Coso, có khả năng một số trong ba người khám phá ra vật thể này đã chết trước đó. Người duy nhất được biết đến còn sống là Virginia Maxey, nhưng bà đã từ chối bình luận về hiện vật này.

Tại sao có vết cắt như laser trên tảng đá tiền sử ? Lịch sử loài người phải viết lại?

Phiến đá khổng lồ thời tiền sử này nằm gần ốc đảo Tayma trong sa mạc của Ả Rập Xê-út là một trong những bí ẩn lớn nhất được con người tìm thấy…

Khi mà công nghệ laser mới được phát minh năm 1953 thôi, vậy mà từ 12 nghìn năm trước những hòn đá này đã sừng sững ở đó như một dấu hỏi lớn cho nhân loại?

Tại sao có vết cắt như laser trên tảng đá tiền sử khổng lồ? Lịch sử loài người phải viết lại?

Kể từ khi phát hiện ra nó, vết cắt ngọt sắc trên đá này đã không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, mà còn tạo ra tranh cãi giữa họ về việc nó là vết cắt nhân tạo hay là vết cắt của tự nhiên. Theo phỏng đoán thứ nhất, vết cắt hoàn hảo trên tảng đá khổng lồ này có nguồn gốc tự nhiên. Có khả năng là nền đất, khi di chuyển nhẹ dưới một trong hai trụ đá đã khiến tảng đá được chia cắt làm đôi, cách nay đã hàng ngàn năm rồi.

Tuy nhiên, lời giải thích này không trả lời nổi hàng tá câu hỏi: làm thế nào việc chia tách này có thể quá hoàn hảo trên cả hai mặt đá như vậy? với một nhát cắt thẳng đứng hoàn hảo? và làm thế nào hai tảng đá có thể được tách ra chính xác cùng một khoảng cách đúng từng ly của khe nứt vỡ?

Tất cả các cánh cửa phân tích đều chỉ dẫn ra rằng:

Tại một thời điểm nào đó trong lịch sử, khối cự thạch khổng lồ này đã được con người gia công với những công cụ cực kỳ chính xác và tân tiến. Một số nhà khoa học thậm chí còn nói rằng chắc chắn các công cụ tương tự như tia laser đã được sử dụng cho nhát cắt ngọt này. Vậy là laser đã tồn tại từ thời tiền sử ư? Lịch sử loài người lại sắp phải viết lại…

Công nghệ laser trong nền văn minh lần này xuất hiện từ bao giờ?

Như chúng ta đã biết, công nghệ laser vẫn còn xa lạ với chúng ta qua nhiều thế kỷ, nhiều thiên niên kỷ, bởi vì ở nền văn minh này, công nghệ laser mãi tới năm 1953 mới được phát minh ra.

Làm thế nào mà thời tiền sử có thể chia cắt đôi tảng đá khổng lồ một cách chính xác như vậy mà không cần sử dụng công nghệ?

Nhiều nhà khoa học đã ra sức suy đoán về chủ đề này, nhưng mãi tới nay vẫn không có ai có thể chỉ ra nguồn gốc thực sự của hiện tượng này. Tất cả đều chỉ là những dấu hỏi lớn và không chắc chắn, ngoài một nhận định duy nhất khả dĩ phù hợp:

Đã tồn tại một nền văn minh vô cùng tiên tiến ở thời điểm đó rồi.

Những khám phá khảo cổ đã chỉ ra rằng khu vực nơi các tảng đá nằm có dấu vết con người sinh sống trong thời kỳ cổ đại. Một điểm hấp dẫn đặc biệt của tảng đá khổng lồ này, là trên đó còn có những bức bích họa con người hình dáng hiện đại.

Những tài liệu lịch sử (và tiền sử) của vùng đất và quần thể di tích tiền sử

Những tảng cự thạch khổng lồ này lần đầu tiên được phát hiện bởi Charles Huver vào năm 1883. Năm 2010, SCTH (Ủy ban Du lịch và Di sản Quốc gia Ả Rập) thông báo tìm thấy một tảng đá khác gần Teima với một dòng chữ tượng hình của Pharaon Ramses III.

Dựa trên phát hiện này, các nhà nghiên cứu đưa ra giả thuyết rằng Teima là một đường mòn quan trọng nối giữa bờ Biển Đỏ đến bán đảo Ả Rập và thung lũng sông Nile.

Tại địa điểm tìm thấy hòn đá, cũng đã có nhiều khám phá khảo cổ rất phong phú về vấn đề này.

Theo kênh truyền hình DiscloseTV, những khám phá khảo cổ gần đây cho thấy Teima đã có người ở từ thời đại tương đương với thời đồ đồng. Theo các nhà nghiên cứu, những dấu vết đầu tiên của thành phố ốc đảo được liệt kê dưới cái tên “Tiamat” trong chữ khắc Assyria…có niên đại từ thế kỷ thứ tám trước Công nguyên …

Các công cụ của quá khứ

Lát cắt cực kỳ ngọt và chính xác, chia đôi khối cự thạch khổng lồ đã làm dấy lên những câu hỏi chưa có câu trả lời. Nhiều nhà khoa học còn đưa ra nhận định rằng việc cắt đôi khối cự thạch Al Naslaa đã được thực hiện bởi một công nghệ siêu việt mà con người chưa từng biết đến.

Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học khác cố gắng để giải thích hiện tượng này như một hiện tượng tự nhiên thuần túy, mặc dù nhiều khám phá trên toàn thế giới đã chỉ ra rằng

Nhiều nền văn minh của loài người thời tiền sử đã sở hữu những kiến thức công nghệ tiên tiến, thậm chí còn tiên tiến hơn con người chúng ta ngày nay, nhưng bị mất đi theo dòng chảy thời gian và tìm thấy lại manh mún trong thời kỳ hiện đại ngày nay.

Câu trả lời: Những nền văn minh tiền sử?

Những khám phá khảo cổ thật kinh ngạc đã chỉ ra rằng cách đây hàng ngàn, thậm chí hàng triệu năm, đã tồn tại trên hành tinh chúng ta những nền văn minh còn tiên tiến hơn chúng ta hiện nay nhưng đã biến mất sau một thảm họa toàn cầu. Các thềm lục địa đã kinh qua nhiều thay đổi, dẫn đến sự nhấn chìm và biến mất dưới đáy đại dương mênh mông của nhiều châu lục.

Vậy là liên tục có những khám phá về các nền văn minh bị chìm xuống đáy biển tưởng chừng như không có. Những khám phá mới của con người dường như liên tục mở ra những chân trời quá khứ tươi đẹp mà trước đây người ta vốn không nghĩ tới, nhưng cũng bắt buộc con người suy ngẫm để tự thấy mình nhỏ bé thế nào trước vũ trụ mênh mông và bao la, năng lực của con người vẫn qúa ư nhỏ bé. Hãy tôn trọng thiên nhiên đất trời. Chúng ta vốn là ai và có thể thực sự làm được điều gì, trên thực tế vẫn mãi là một ẩn số lớn của nhân loại.